Đưa câu đố vào dạy học Tiếng Việt, Địa lý, Lịch sử ở cấp tiểu học

 - Người đăng bài viết: Nguyễn Ngọc Huyền  - Chuyên mục :  Đã xem: 308 

Việc đưa câu đố vào trong tiết dạy Tiếng Việt, Lịch sử và Địa lý ở bậc Tiểu học có ý nghĩa về nhiều mặt đưa lại hiệu quả cao trong tiết học, nhất là trong điều kiện đổi mới của phương pháp giáo dục hiện nay.

 

 

 Điều quan trọng không những làm cho tiết học, buổi học sinh động hơn, lý thú hơn mà còn làm cho học sinh sảng khoái có thêm hiểu biết ở nhiều lĩnh vực, cho dù là những hiểu biết đó chưa có tính quyết định làm cơ sở cho quá trình tích luỹ kiến thức học tập cũng như cuộc sống của các em sau này.

          Nhưng thực tế cho thấy, trong một tiết học với  thời gian từ 35 đến 40 phút, nếu như chỉ tổ chức phương pháp và hình thức dạy học: Đàm thoại Thầy – Trò; thảo luận nhóm; làm việc cá nhân, học sinh cũng dễ nhàm chán, mệt mỏi, mất khả năng chú ý dẫn đến hiệu quả thấp. Vì vậy tôi thiết nghĩ tất cả các môn học ở bậc tiểu học nhất là các môn Tiếng Việt, Lịch sử, Địa lý, việc đưa câu đố vào các tiết dạy nhằm làm thay đổi không khí học tập, thay đổi hoạt động của học sinh, kích thích sự liên tưởng, suy đoán làm cho tiết học sinh động lý thú, có ý nghĩa hơn. Từ đó các em nhớ lâu hơn, sâu sắc hơn kiến thức trong bài học.     

          1- Câu đố về Lịch sử:

          Câu đố ở môn Lịch sử, đối tượng chủ yếu là các nhân vật lịch sử thuộc nhiều lĩnh vực, ở nhiều thời đại lịch sử ở nước ta. Đó là câu đố về những vị vua anh minh, sáng suốt, nhìn xa trong rộng được thần dân kính nể, ngưỡng mộ như: Ngô Quyền, Đinh Bộ Lĩnh, Lê Lợi, Quang Trung – Nguyễn Huệ... qua các triều đại phong kiến Việt Nam, những vị tướng tài ba, có công lớn với đất nước như: Hưng Đạo Đại Vương Trần Quốc Tuấn, Phạm Ngũ Lão, Lê Khôi... Những danh nhân tài cao đức sáng như Chu Văn An, Nguyễn Trãi, La Sơn Phu Tử Nguyễn Thiếp...Những liệt nữ anh hùng trong đấu tranh chống giặc ngoại xâm, bảo vệ tổ quốc như Hai Bà Trưng, nữ tướng Lê Chân, Thái Hậu Dương Văn Nga, nữ tướng Bùi Thị Xuân trong thế kỷ XX tiêu biểu có Nguyễn Thị Minh Khai... những anh hùng nhỏ tuổi nhưng chí lớn như: Trần Quốc Toản, Võ Thị Sáu... câu đố về lịch sử thường bao quát những nét chính trong cuộc đời và sự nghiệp của các anh hùng, danh nhân, chí sỹ. Câu đố được viết bằng thể loại lục bát dễ nhớ, dễ thuộc làm cho học sinh dễ liên hệ để giải và có ấn tượng.

          Ví dụ như câu đố về vua Trần Nhân Tông:

Vua nào mở hội Quốc gia

Diên hồng phụ lão nước ta ngồi bàn...

          Đố về vua Lê Thánh Tông:

Vua anh minh của nước nhà

Vị chủ soái hội thi ca Tao Đàn

Định Luật Hồng Đức rõ ràng

Lệ Chi sáng tỏ, giải oan anh hùng...

Đố về vua Quang Trung – Nguyễn Huệ:

Vua nào áo vải

Đánh bại quân Thanh...

          Đố về Hưng Đạo Đại Vương Trần Quốc Tuấn, vị tướng lừng danh tài ba lỗi lạc:

Người nào ở thời nhà Trần

Ba lần đánh thắng giặc Nguyên bạo tàn

Lừng danh trang sử nước Nam

Danh tiếng thế giới sử vàng có tên...

Đố về Trần Quốc Toản, người anh hùng nhỏ tuổi nhưng chí lớn:

Người nào ở tuổi thiếu niên

Người nhỏ chí lớn xưng tên anh hùng

Lá cờ thêu sáu chữ vàng

Quyết đánh giặc nước báo đền ơn Vua...

          Đố về anh hùng Nguyễn Trãi:

Ai viết Đại cáo bình Ngô

Giúp vua Lê Lợi dựng cờ đuổi Minh

Một lòng vì nước vì dân

Tài cao đức sáng xứng danh anh hùng...

Qua thực tế cho thấy, dạy câu đố về lịch sử có tác dụng rõ rệt là khắc sâu trong tâm trí học sinh những đức tính, công lao, tài năng của các nhân vật thuộc nhiều lĩnh vực từ triều đại này đến triều đại khác trong lịch sử dựng nước và giữ nước của dân tộc ta. Từ đó bồi dưỡng cho các em lòng tự hào quật cường về lịch sử chống giặc ngoại xâm, bảo vệ Tổ quốc của dân tộc ta, càng thêm trân trọng yêu quý họ và những trang sử hào hùng của dân tộc ViệtNam.

          2- Câu đố về Địa lý:

          Đối với môn địa lý, thường là câu đố về các vùng miền, tên sông, tên đèo, tên núi, tên tỉnh, tên thành phố... trên đất nước ViệtNamthân yêu của chúng ta.

          Chẳng hạn đố về sông:

Sông gì đỏ nặng phù sa

Sông gì lại hoá được ra chín rồng

 

Làng quan họ có con sông

Hỏi dòng sông ấy là tên sông gì?

 

Sông gì xanh biếc sông chi

Sông gì tiếng vó ngựa phi ngang trời.

 

Sông gì chẳng thể nổi tên

Bởi tên của nó gắn liền dưới sâu.

 

Hai dòng sông trước sông sau

Hỏi hai sông ấy ở đâu sông nào.

 

Sông nào nơi ấy sóng trào

Vạn quân Nam Hán ta đào mồ chôn...

          Đó là đố về tên những con sông: Sông Hồng, Sông Cửu Long, Sông Cầu, Sông Lam, Sông Mã, Sông Đáy, Sông Tiền-Sông Hậu, Sông Bạch Đằng nhằm khác sâu cho học sinh kiến thức về các con sông thuộc các vùng miền trên đất nước Việt Nam.

          + Đố về thành phố Đà Nẵng:

Ở đâu có Ngũ Hành Sơn

Có chùa Non Nước, có sông Hàn nền thơ

Có thêm bán đảo Sơn Trà

Ai xa cũng nhớ quê nhà đẹp sao.

          + Đố về thành phố Huế:

Ở đâu có cảnh Cố Đô

Sông Hương uốn khúc đôi bờ xanh xanh

Có thôn Vĩ Dạ hữu tình

Cầu Tràng Tiền đó rập rình xe qua.

          Câu đố về địa lý giàu chất trữ tình, hình ảnh sinh động, gợi cảm xúc làm cho các em học sinh thêm yêu, thêm tự hào về quê hương Đất nước ta.

          3- Câu đố về Tiếng Việt:

          Môn Tiếng Việt câu đố chủ yếu dành cho các tiết dạy học vần, chính tả, luyện từ và câu, là câu đố về thanh và chữ, về vần nhằm giúp học sinh thêm ghi nhớ các thanh, các chữ, phân biệt được các âm vần dễ lẫn trong tiếng việt. Đó là những câu đố đổi thanh, đổi dấu, đổi vị trí.

          + Đố về thanh:

Đang ở dưới bếp

Giúp việc nấu ăn

Chẳng may bị nhầm

Thành giường trẻ nhỏ

Chỉ vì ai đó

Đánh mất dấu huyền

                          (nồi – nôi)

          + Đố về chữ:

Để nguyên tên một loài chim

Bỏ sắc thường thấy ban đêm trên trời.

(sáo – sao)

 

Để nguyên vằng vặc trời đêm

Thêm sắc màu phấn cùng em tới trường.

(trăng – trắng)

 

Để nguyên loại quả thơm ngon

Thêm hỏi co lại chỉ còn bé thôi.

Thêm nặng mới thật lạ đời

Bỗng nhiên thành vết xoong nồi nhọ nhem.

(nho – nhỏ – nhọ)

 

Bình thường dùng gọi chân tay

Muốn có bút vẽ thêm ngay dấu huyền

Thêm hỏi làm bạn với kim

Có dấu nặng, đúng người trên mình rồi.

(chi – chì - chỉ – chị)

 

Sinh ra đã biết bay rồi

Bỏ đầu thì trọc, bỏ đuôi thì nghèo.

(khói)

 

Cắt đuôi đồng nghĩa với thừa

Cắt đầu đồng nghĩa với vừa lòng anh

Để nguyên thành quả ngọc lành

Mùa hè nóng bức chúng mình muốn ăn

(dưa)

 

Ngược xuôi nối lại đôi bờ

Sớm chiều trên bến người chờ đợi sang

Đội thêm chiếc mũ nhẹ nhàng

Thành thầy dạy học trong làng ngày xưa.

(đồ - đò)

          Những câu đố về chữ giúp học sinh suy luận, phát triển óc tưởng tượng phong phú. Giáo viên cần đưa ra đúng lúc, đúng thời điểm trong tiết học.

          + Đố về tên con vật chứa tiếng bắt đầu bằng (l) hay (n):

Những câu đố này thường lồng vào tiết học chính tả nhằm giúp học sinh phân biệt đúng âm tránh lẫn lộn.

Mẹ thì sống ở trên bờ

Con sinh ra lại sống nhờ dưới ao

Có đuôi bơi lội lao xao

Mất đuôi tức khắc nháy nhao lên bờ.

(Nòng nọc)

          + Đố về tên các con vật chứa tiếng có vần en hoặc eng:

Chim gì liệng tựa con thoi

Báo mùa xuân đến giữa trời say sưa.

(én)

          + Đố về vầnênh:

Cái gì cao lớn l...kh...

Đứng mà không tựa ngã k... ngay ra

(Thang)

          Câu đố về tiếng việt lý thú, hấp dẫn với học sinh tiểu học. Có những câu đố về nghĩa biểu vật của từ:

Cánh gì ngô lúa tốt tươi

Cánh gì trên biển người người đều nghe

Cánh gì làm việc mải mê

Cánh gì lộng gió đi về ngoài khơi

Cánh gì tâm sự cùng người

Cánh gì chao giữa ngọt lời mẹ ru.

 

Câu đố tiếng Việt còn làm cho các em thêm yêu quý tiếng mẹ đẻ, hiểu thêm sự phong phú hấp dẫn, đa nghĩa của tiếng việt, từ đó góp phần bảo vệ sự trong sáng giàu đẹp của tiếng Việt.

Để nâng cao chất lượng dạy và học các môn tiếng Việt, Địa lý, Lịch sử ở Tiểu học, giáo viên cần tạo ra nhiều hình thức dạy học lý thú, hấp dẫn, phù hợp với lứa tuổi học sinh. Sử dụng câu đố là một hình thức dạy học bổ ích.


 
Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá
Click để đánh giá bài viết

  Ý kiến bạn đọc

  Ẩn/Hiện ý kiến

Mã chống spam   

Những tin mới hơn

 

Những tin cũ hơn

Top